Trong năm 2010, kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 1,883 tỷ USD, tăng 17,5% và chiếm 16,8%; sang Nhật đạt 1,154 tỷ USD, tăng 21% và chiếm 10,3%.
Ngành dệt may Việt Nam là ngành có nhiều thế lợi như nguồn lao động dồi dào, tay nghề kéo léo do ngành có truyền thống lâu đời, khí hậu thuận lợi cho việc trồng cây bông cung cấp nguyên liệu tại chỗ, là nước đi sau trong chuỗi dịch chuyển của ngành nên có thể học hỏi kinh nghiệm và tiếp thu những công nghệ mới trong ngành của các nước tiên tiến và con người Việt Nam năng động sáng tạo nên có thể tìm tòi nghiên cứu và cải tiến kỹ thuật trong ngành dệt may như nghiên cứu cây giống,  nâng cao trình độ kỹ thuật trong các khâu sản xuất,  cải thiện quy trình sản xuất… Và trong xu thế hội nhập, có sự thúc đẩy phát triển nhanh nên ngành dệt may đã tận dụng những lợi thế của mình để sản xuất và phát triển ngành ngày còn lớn hơn. Đã có sự liên kết trong ngành lập thành Tập đoàn dệt may VINATEX nên ngành đã đáp ứng nhu cầu của người dân trong nước và tiến ra xuất khẩu, nhất là tiến vào ba thị trường chính là Mỹ, EU và Nhật Bản. Ta hãy tìm hiểu tình hình xuất khẩu dệt may Việt Nam sang hai thị trường chính đó là EU, Nhật Bản vào năm 2010.

Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), 6 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào EU tăng không đáng kể, đạt khoảng 650 triệu USD. Thậm chí trong hai tháng 4 và 5, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào EU bình quân mỗi tháng chỉ là 104 triệu USD, giảm gần 3% so với cùng kỳ năm ngoái. Số liệu thống kê của Bộ Công thương cho thấy, trong 9 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu hàng sang Nhật Bản đạt 700 triệu USD, tăng 15%, trong khi kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU chỉ tăng hơn 6% (1,18 tỷ USD).
Phân tích ở từng thị trường

Thị trường EU
Thực tế đây là khối thị trường khó mở rộng hơn do các nền kinh tế EU hồi phục chậm chạp hơn các khu vực khác và những quy định khắt khe từ khối này. Nhưng trong năm 2010, các nước trong khối cũng đã gia tăng nhập khẩu hàng hóa, trong đó có hàng dệt may. Trong năm 2011, các chuyên gia nhận định tăng trưởng kinh tế của khu vực EU vào khoảng 1,8%. Cụ thể:

Tại Đức: Đây là nền kinh tế lớn nhất châu Âu, tăng trưởng kinh tế nước này trong năm 2010 đạt 3,6%, đây là mức tăng trưởng cao nhất từ năm 1992 đến nay và vượt dự báo của các chuyên gia. Cũng trong năm 2010, nhập khẩu hàng hóa của Đức tăng 13%, trong đó, kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may đạt 47,55 tỷ USD, tăng 4,9% so với năm 2009 và là nhà nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ 2 thế giới. Dự báo, trong năm 2011, kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của nước này đạt khoảng 49,15 tỷ USD, tăng 3,4% so năm 2010.

Đức cũng là nhà nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam lớn nhất trong khối. Dự báo, trong năm 2011, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Đức đạt khoảng 500 triệu USD, tăng 12,1% so với năm 2010.

Tại Anh: Đây là nhà nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ tư thế giới. Trong năm 2010, nhập khẩu hàng dệt may của nước này đạt 29,03 tỷ USD, tăng 6,3% so với năm 2009. Dự báo trong năm 2011, kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Anh đạt khoảng 29,53 tỷ USD, tăng 1,7% so với năm 2010.
Anh cũng là nhà nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam lớn thứ 2 trong khối. Dự báo, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của ta sang Anh trong năm 2011 đạt khoảng 400 triệu USD, tăng 20,2% so với năm 2010.

Tại Pháp: Nền kinh tế nước này đã tăng trưởng trở lại sau thời gian dài suy thoái, GDP tăng 1,5% trong năm 2010. Trong đó, nhập khẩu tăng 5,6% và nhập khẩu hàng hóa từ châu Á tăng 13,2%. Đây là nước nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ năm thế giới. Trong năm 2010, kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của nước này đạt 29,44 tỷ USD, tăng 9,2% so năm 2009. Dự báo, kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Pháp trong năm 2011 đạt 30,09 tỷ USD, tăng 2,2% so năm 2010 và kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của ta sang Pháp trong năm 2011 đạt khoảng 150 triệu USD, tăng 3% so với năm 2010. Đây là một con số khá khiêm tốn so với nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may của nước này.

Tại Italy: Đây là nhà nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ sáu thế giới. Trong năm 2010, trị giá nhập khẩu hàng dệt may của nước này đạt 25,14 tỷ USD, tăng 9,3% so năm 2009. Dự báo, kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Italy trong năm 2011 đạt 30,09 tỷ USD, tăng 2,2% so năm 2010. Tuy vậy, kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của nước này từ Việt Nam chỉ đạt khoảng 125 triệu USD, tăng 6% so năm 2010.

Tại Bỉ: Nền kinh tế nước này tăng trưởng khá ổn định và tiếp tục ổn định trong năm 2011. Đây là nhà nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ tám thế giới. Trong năm 2010, trị giá nhập khẩu hàng dệt may của nước này đạt 13,85 tỷ USD, tăng 11,9% so năm 2009. Dự báo, kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Bỉ trong năm 2011 đạt 14,61 tỷ USD, tăng 5,5% so năm 2010. Nhưng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của nước này từ Việt Nam trong năm 2011 chỉ đạt khoảng 140 triệu USD, tăng 15% so với năm 2010.

Tuy EU là một thị trường tiêu thụ khổng lồ đối với mặt hàng dệt may thế giới nhưng lượng và kim ngạch hàng dệt may của ta xuất sang khối này còn rất nhỏ bé so với tiềm năng của thị trường. Dự báo, trong năm 2011, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của ta sang EU đạt khoảng 2,2 tỷ USD, tăng 16,8% so với năm 2010 và chiếm 17,6% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước.Mặc dù kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU gần đây đã bắt đầu tăng trở lại so với đầu năm, nhưng so với các thị trường truyền thống khác Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…,  thì tốc độ tăng còn chậm.

Việc xuất hàng dệt may sang EU, Việt Nam gặp những khó khăn và thuận lợi sau

Khó khăn

Ông Trần Ngọc Quân, Trưởng phòng EU (Vụ Thị trường Châu Âu), khó khăn đối với DN xuất khẩu vào EU, trước tiên là do thị hiếu, phong cách tiêu dùng, ngôn ngữ, văn hoá kinh doanh của mỗi nước, mỗi vùng khác nhau, trong khi đó hàng hoá vào thị trường EU lại được lưu thông trên toàn bộ 27 nước. Như vậy, việc tạo ra một sản phẩm và đưa sản phẩm vào được một nước và phải thích ứng với 26 nước còn lại là một thách thức không nhỏ đối với các DN Việt Nam.Thứ hai, thị trường EU có nhiều quy định kỹ thuật khá khắt khe với mục đích bảo vệ sức khoẻ con người, bảo vệ môi trường, mà cụ thể là “vướng” về quy định sử dụng hoá chất (Reach) đã có hiệu lực từ năm 2009.Thứ ba, việc kiểm tra chất lượng nguồn nguyên liệu đầu vào nhằm giảm thiểu những rào cản kỹ thuật khi xuất khẩu là thiếu vốn để đầu tư các trang thiết bị kiểm tra hiện đại.Thứ tư, việc cập nhật các thông tin của các DN còn nhiều hạn chế cũng làm tăng nguy cơ gặp phải rủi ro trong xuất khẩu. Ngoài ra, EU vẫn đang tìm mọi cách để duy trì chính sách bảo hộ sản xuất nội khối.

Thuận lợi

Quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và EU đang phát triển ấn tượng. Năm 2010, Việt Nam và EU đã ký tắt Hiệp định đối tác, hợp tác toàn diện (PCA).
Hiệp định FTA Việt Nam – EU  được ký kết sẽ tác động tích cực đến nhiều ngành sản xuất( đặc biệt là ngành dệt may) và nền kinh tế Việt Nam.Bộ Công Thương vừa qua đã tổ chức đối thoại trực tuyến về thị trường xuất khẩu trọng điểm Ấn Độ, Nhật Bản, UK, UAE, Campuchia, Trung Quốc…

Thị trường Nhật Bản

Nhật Bản là nhà nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ ba thế giới với trị giá nhập khẩu được duy trì khá ổn định qua các năm. Trong năm 2009, tuy kinh tế thế giới rơi vào suy thoái nhưng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng dệt may của Nhật vẫn đạt 31,07 tỷ USD, giảm nhẹ 1,9% so với năm 2008 và tăng 2,2% trong năm 2010, đạt 31,76 tỷ USD. Dự báo trong năm 2011, trị giá nhập khẩu hàng dệt may của nước này đạt 32,17 tỷ USD, tăng 1,3% so với năm ngoái. Việt Nam trở thành nhà cung cấp hàng dệt may lớn thứ 2 vào Nhật nhưng thực tế thì kim ngạch xuất khẩu chưa tương xứng với tiềm năng từ thị trường này. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Nhật trong năm 2011 dự báo đạt 1,5 tỷ USD, tăng 30% so năm 2010. Việt Nam hiện là đối tác lớn nhất của Nhật Bản trong khối ASEAN với lượng hàng dệt may xuất khẩu chiếm 34,4% trong khối.

Những khó khăn và thuận lợi khi xuất hàng dệt may Việt Nam sang Nhật Bản

Khó khăn

Hiệp định Đối tác kinh tế với Việt Nam – EPA là hàng dệt may Việt Nam xuất sang Nhật Bản phải đạt tiêu chí xuất xứ “hai công đoạn”. Hàng dệt may xuất sang Nhật phải được sản xuất từ nguyên phụ liệu trong nước, hoặc của Nhật hoặc của các nước ASEAN.  Hiện nay, Nhận Bản đã đạt được tiêu chí xuất xứ “hai công đoạn” đối với mặt hàng dệt may trong EPA ở cả 6 nước ASEAN (Singapore, Malaysia, Philippines, Brunei, Indonesia, Thái Lan) và các nước này đều đã được hạ thuế suất thuế xuất khẩu xuống 0%, VN không thể cạnh tranh được với các nước này.

Hành trình để được hưởng ưu đãi từ EPA của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam lại không đơn giản, bởi ngành phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, nhất là khi trên 80% nguồn nguyên phụ liệu được nhập khẩu này lại không được nhập từ Nhật và ASEAN.

Theo các DN, Nhật Bản vẫn sử dụng vải đưa từ Nhật Bản sang để DN Việt Nam thực hiện các hợp đồng gia công,  DN không có nhiều vải được sản xuất từ trong nước. Hơn nữa, thị trường Nhật Bản đòi hỏi chất lượng sản phẩm khá khắt khe. Ngoài ra, DN Việt Nam cũng khó tăng mạnh sản phẩm chất lượng cao vào NB. Bởi vì, để chuyển đổi một dây chuyền sản xuất, đòi hỏi DN phải đầu tư về vốn và thời gian. Lý do nữa,  phân khúc hàng giá rẻ tại Nhật Bản, hàng Việt Nam không thể cạnh tranh với sự thống trị của hàng Trung Quốc.

Thuận lợi

Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản, hàng may mặc được sản xuất bằng nguyên phụ liệu Việt Nam được miễn thuế hoàn toàn, trong khi hàng may mặc xuất khẩu từ Trung Quốc sang Nhật Bản phải chịu thuế từ 15-25%. Đây là tín hiệu đáng mừng ngành dệt may VN có thể cạnh tranh với TQ.Giảm thuế xuất khẩu vào Nhật Bản kể từ ngày 1/10/2009, các DN Việt Nam nhận được tiền gia công từ đối tác tăng thêm. Giả sử, giá FOB là 50 USD, giảm 10% thuế tức là giảm được 5 USD, thì chắc chắn đối tác sẽ tăng thêm công may cho DN 1 USD.Ngành dệt may Việt Nam còn có khá nhiều tiềm năng cho xuất khẩu. Tiềm năng này trước hết là do nguồn lao động còn lớn, đặc biệt là nhờ cấu trúc dân số trẻ, nên chi phí cho lao động không tăng nhanh như tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của hàng dệt may.Bên cạnh đó, Việt Nam có môi trường đầu tư ổn định, với tiềm năng tăng trưởng cao, nên có sức hấp dẫn với nhà đầu tư và bạn hàng nước ngoài.
Việt Nam đang tham gia ngày một sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Cùng với việc cải thiện hình ảnh của Việt Nam, quá trình này còn giúp gia tăng tiếp cận thị trường cho hàng hóa của Việt Nam nói chung và hàng dệt may của Việt Nam nói riêng. Nền kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi, nhu cầu nhập khẩu đối với hàng dệt may đang gia tăng cũng là một thuận lợi đối với ngành này.Cùng với đó là những chính sách về tỷ giá nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh cho hàng xuất khẩu cũng là một lợi thế cho ngành.
Một số giải pháp để thực hiện mục tiêu

Đối với ngành

Thúc đẩy đầu tư phát triển ngành dệt may gắn liền với hợp tác quốc tế, tranh thủ tối đa làn sóng dịch chuyển dệt may từ các nước phát triển, đồng thời khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong nước tham gia đầu tư.

Xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn để cung ứng kịp thời nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp trong ngành.
Mở rộng thị trường xuất khẩu thông qua cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, xuất nhập khẩu theo hướng đơn giản hoá các thủ tục, và tăng cường công tác tư vấn pháp luật thương mại quốc tế cho doanh nghiệp xuất khẩu.

Xây dựng chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may, trong đó Hiệp hội Dệt May Việt Nam và Tập đoàn Dệt May Việt Nam là đầu mối để phối hợp và liên kết với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước.

Nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới, các nguyên liệu mới, và nâng cao năng lực tư vấn, nghiên cứu triển khai, chuyển giao công nghệ, khả năng thiết kế và sáng tác mẫu của các Viện nghiên cứu.Chú trọng công tác bảo vệ môi trường cũng được chú trọng, với định hướng tập trung xử lý các nguồn ô nhiễm nước tại các công ty dệt nhuộm, đổi mới công nghệ trong ngành theo hướng tiết kiệm nguyên liệu và thân thiện với môi trường.

Hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo và vốn đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực cho các Viện nghiên cứu và các cơ sở đào tạo cho ngành Dệt May, đồng thời dành vốn tín dụng của nhà nước, vốn ODA và vốn của quỹ môi trường cho các dự án đầu tư xử lý môi trường của các doanh nghiệp trong ngành dệt may.

Đối với doanh nghiệp

Tổ chức lại sản xuất, tìm mọi cách tiết giảm chi phí sản xuất, nghiên cứu áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến, phần mềm quản lý để nâng cao năng suất lao động và khả năng cạnh tranh. Tận dụng cơ hội thu hút đơn hàng, duy trì được và khai thác hiệu quả các khách hàng truyền thống và phát triển thêm được khách hàng mới, góp phần ổn định sản xuất, bảo đảm việc làm cho người lao động. Chú trọng đến việc xây dựng liên kết chiến lược với các khách hàng là những nhà bán lẻ, nhập khẩu lớn trên thế giới, tham gia vào các chuỗi liên kết của họ nhằm ổn định đơn hàng, khách hàng, tiếp cận kinh nghiệm quản lý, kinh doanh của họ.

Tái cấu trúc sản xuất ngành may, di dời các xưởng sản xuất về các thị tứ và vùng nông thôn tiện đường giao thông, cơ sở tại thành phố chỉ tập trung sản xuất hàng cao cấp và phát triển kinh doanh nhằm giải quyết bài toán thiếu hụt lao động và chi phí tăng nhanh. Linh hoạt trong điều hành sản xuất kinh doanh. Ðồng thời quan tâm đúng mức đến việc đầu tư phát triển các khu công nghiệp sản xuất vải (dệt, in, nhuộm, hoàn tất), có hệ thống xử lý nước thải nhằm từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giúp các DN may mặc bảo đảm nguồn nguyên phụ liệu phong phú, nâng cao chất lượng dịch vụ và khả năng linh hoạt đáp ứng nhanh các yêu cầu của khách hàng, sẵn sàng tham gia có hiệu quả vào Liên minh các DN có chất lượng dịch vụ cao ASEAN (AFSA).

Thời trang hóa ngành dệt may, tăng cường đào tạo thiết kế, marketing sản phẩm thời trang, phát triển thương hiệu sản phẩm, chuyển dần từ phương thức gia công đơn thuần sang việc chào bán sản phẩm với nguyên liệu và thiết kế do DN chủ động nhằm mang lại giá trị gia tăng cho sản phẩm và bảo đảm sự phát triển bền vững, lâu dài cho DN.

Tiếp tục chăm lo đời sống của người lao động để họ yên tâm sản xuất, bảo đảm nguồn lực cho phát triển. Khẩn trương ký kết thỏa ước lao động tập thể và triển khai thực hiện đến các cơ sở, giúp ổn định lao động và hạn chế đình công tự phát.

Bài tổng hợp của Lê Thị Nga
Thống kê năm 2010